Website http://daynghehieuqua.ced.edu.vn

Thư ngỏ...

Tình hình dạy và học nghề ở Việt Nam hiện nay

Dạy nghề ở Việt Nam. Một cái nhìn tổng quan về tình hình dậy và học nghề ở Việt Nam.

Công cụ dậy nghề hiệu quả

Giới thiệu bộ công cụ dạy nghề hiệu quả, phân tích nhu cầu thị trường, khảo sát điều tra, quản lý đánh giá

Thông tin dậy nghề

Mô hình dạy nghề hiệu quả. Người lao động cần biết.

Kết nối thị trường

Thông tin nhà tuyển dụng, người sử dụng lao động nói gì?

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

Tổng cục Dạy nghề triển khai nhiệm vụ năm 2012

Sáng 13/01, Tổng cục Dạy nghề đã tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2011 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2012 với sự tham dự của Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Phi cùng các lãnh đạo, cán bộ, viên chức của Tổng cục.

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Thực tiễn tổ chức và thực hiện các chương trình nghề cho người nghèo tại Hà Nội và Bắc Ninh

Thực tiễn tổ chức và thực hiện các chương trình nghề cho người nghèo tại Hà Nội và Bắc Ninh:

Hiện nay mặc dù đã có rất nhiều hình thức đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như: đào tạo nghề chính quy, đào tạo nghề cho nông dân tại các cơ sở dạy nghề... Tuy nhiên, qua nghiên cứu, khảo sát, với các hình thức dạy nghề trên, người nghèo không tiếp cận được vì nhiều lý do như: người nghèo đã quá tuổi học nghề, không có điều kiện đi học xa nhà, không tham gia được khoá học vì là lao động chính trong gia đình. Do vậy doanh nghiệp đã tiến hành khảo sát nhu cầu học nghề của người nghèo tại các địa phương, phân loại lao động có nhu cầu học nghề theo nhóm ngành nghề để lựa chọn hình thức tổ chức đào tạo cho phù hợp với nhu cầu học nghề của người nghèo.

Xây dựng kế hoạch:
Khảo sát cho thấy hầu hết các cơ sở nghề vẫn dậy nghề và tuyển sinh theo chỉ tiêu. Hầu hết các cơ sở nghề, đều dựa theo mục tiêu và chương trình chung cua chính phủ (thường là 5 năm) và hàng năm cũng có lên kế hoạch và mục tiêu dậy nghề nhưng chủ yếu vẫn xoay quanh chương trình dậy nghề của chính phủ và phụ thuộc vào kinh phí và chương trình chung. Việc tiến hành đánh giá nhu cầu (từ người sử dụng lao động và người tham gia học nghề) rất ít khi được tiến hành một cách bài bản do thiếu kinh phí và không có chủ trương chung.

Hầu hết các cơ sở dậy nghề đều có liên kết. hợp tác với các tổ chức, cơ quan chức năng, doanh nghiệp vừa & nhỏ tại cơ sở , địa phương ();

Một số cơ sở khảo sát đã thực hiện khảo sát nhu cầu học nghề của học sinh các trường PT (trước khi tốt nghiệp, năm 2011).

Qua khảo sát đa số các cơ sở đều khẳng định đã thực hiện tốt việc tuyển sinh, mở lớp, xây dựng Chương trình dạy nghề, sử dụng phát huy cán bộ quản lý, chuyên môn, tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật để tổ chức thực hiện , giám sát, dạy nghề tại chỗ. Tuy nhiên khi hỏi về các báo cáo cụ thể, công cụ, phương tiện đánh giá thì các trường đều không có.

Hầu hết các lớp dạy nghề đều gắn với nhu cầu và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, quan tâm tới các đối tượng bị thu hồi ruộng đất canh tác, sản xuất nông nghiệp.( Ý kiến của Phó CT UBND xã An Bình; bảng tổng hợp kết quả và chất lượng đào tạo của Nhà trường). Các cơ sở nghề đa số đều không tiến hành đánh giá nhu cầu của các doanh nghiệp, hay của người học nghề.

Chương trình đào tạo được thiết kế và thực hiện theo hệ thống Module gồm kiến thức cơ bản cần thiết, kỹ thuật chuyên ngành và kinh nghiệm thực tiễn nghề tại địa phương.

Một số cơ sở nghề năng động hơn đã có thêm chuyên chuyên đề về “An toàn lao động và an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường”.

Do thời gian khảo sát thực tế của Đoàn hạn chế nên chưa được tiếp cận, trao đổi về phương pháp và chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung và các giáo viên. Đây là một công cụ và tiêu chí đánh giá quan trọng đối với một cơ sở dạy nghề.

Liên quan đến chính sách đối với nông dân và học sinh học nghề theo Quyết định 1956: ngườì học chỉ được miễn học phí, cung cấp tài liệu, bút vở và vật liệu thực hành; không thấy nói đến phụ cấp ăn ở(?).

Một số cơ sở sản xuất dậy nghề theo nhu cầu của sản xuất và nhu cầu của người lao động thì hoạt động dậy nghề hiệu quả và thiết thực hơn, gắn với việc làm. Tuy nhiên quy mô của những cơ sở này khá nhỏ lẻ và cũng tùy thuộc vào điều kiện kinh doanh sản xuất của các cơ sở đó. Người lao động cũng sẽ cần học thêm nghề mới nếu mất việc làm hiện tại.

Tuyển sinh
Hầu hết các cơ sở tuyển sinh theo chỉ tiêu, theo kế hoạch đã xây dựng hàng năm và được duyệt. Cách thức tuyển sinh phổ biến là thông báo ngay tại cơ sở nghề hoặc phối hợp với các coq quan trên địa bàn để đưa thông tin tuyển sinh đến cộng đồng. Nếu đủ học sinh thì tổ chức lớp, nếu học viên chưa đủ thì có thể hoãn hoặc điều chỉnh thành khóa học khác của cơ sở nếu có nhu cầu hoặc đăng ký nhiều hơn. Nhìn chung, các cơ sở cũng khá thụ động trong việc tuyển sinh, đưa thông tin đến các nhóm đối tượng có nhu cầu.

Tiến hành đào tạo nghề:
Tại các cơ sở nghề của các doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất, dạy nghề thường xuyên theo phương pháp lý thuyết kết hợp với thực hành truyền nghề, kèm nghề, cầm tay chỉ việc. Hầu hết các cơ sở nghề của nhà nước dậy nghề theo chỉ tiêu, học còn nhiều lý thuyết, thực hành không nhiều nên người học xong nghề các đơn vị sử dụng lao động vẫn phải đào tạo lại, điều này gây lãng phí lớn về nguồn lực. Các cơ sở dậy nghề nhìn chung đều có sẵn kế hoạch đào tạo, tài liệu khá đầy đủ. Sau khi kết thúc khóa học, mỗi học sinh đều nắm chắc các kiến thức cơ bản , có kiến thức, kỹ năng cuả người thợ để kinh doanh sản xuất mặt hàng của doanh nghiệp.

Theo dõi đánh giá


Hầu hết các cơ sở nghề tham gia khảo sát đều chưa có hệ thống theo dõi đánh giá chất lượng dạy nghề. Một số cơ sở sản xuất kết hợp dạy nghề thì có thể trực tiếp đánh giá chất lượng vì sau đó người lao động làm việc luôn tại cơ sở sản xuất. Mặt khác dậy nghề tại các cơ sở này cũng chủ yếu là thực hành, cầm tay chỉ việc, và truyền nghề. Một số c ơ sở, sau khi tốt nghiệp ,sẽ thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa các học viên và công ty trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm cũng như hỗ trợ tư vấn trong các giai đoạn sau này

Giới thiệu việc làm
Nhiều cơ sở dạy nghề thuộc các công ty hoặc có liên kết với các công ty có sử dụng công nhân với ngành/ nghề được đào tạo thì các công ty hợp đồng sản xuất theo thời vụ với những người đã được đào tạo. Ngoài ra, các cơ sở dậy nghề của nhà nước thì vẫn thông thường chỉ có kết nối hoặc giới thiệu việc làm cho người học nghề qua các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn hoặc các doanh nghiệp có nhu cầu và có liên hệ với đơn vị dạy nghề. Rất ít cơ sở nghề có hệ thống theo dõi hay kết nối với những người đã qua đào tạo tại các cơ sở của mình.


Thuận lợi
Hiện nay chính phủ đang rất quan tâm đến công tác dậy nghề và tạo việc làm cho người nghèo, có nhiều chương trình

Khó khăn
Tuy nhiên, việc thu hút người nghèo tham gia các lớp đào tạo còn khó khăn, nhiều người nghèo chưa có việc làm hoặc việc làm chưa ổn định nhưng việc vận động người nghèo đi học nghề là cả một vấn đề. Nguyên nhân cốt lõi vì họ nghèo, phải kiếm sống hàng ngày. Vì vậy khi tham gia các lớp học nghề trong thời gian 03 tháng thì thời gian đó gia đình họ sống bằng nguồn thu nhập nào? Không ít người nghèo cho rằng: đi làm thuê, buôn bán nhỏ mỗi ngày kiếm 50.000 - 70.000 đồng còn hơn đi học nghề. Do vậy doanh nghiệp nhiều khi không mở được lớp theo kế hoạch do không chiêu sinh đủ 30 học viên/1lớp theo quy định hoặc trong quá trình học, số học viên tự ý nghỉ học không lý do vì người lao động bỏ học để tiếp tục đi làm thuê, cuốc mướn...

Điều này đòi hỏi các cấp các ngành và các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động nghèo, cần có sự quan tâm, tạo nhiều cơ hội hơn cho người nghèo, (đặc biệt là người cận nghèo) có nghề để tìm việc làm ổn định lâu dài, góp phần ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế cho gia đình và xã hội. Mặt khác cần có chính sách ưu tiên, khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thu hút lao động nghèo vào làm việc; hoặc khai thác, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có đầu ra ổn định, truyền nghề, cấy nghề cho lao động nghèo để tổ chức tạo việc làm dưới dạng "vệ tinh” của doanh nghiệp.

Tình hình đào tạo lao động nông thôn ở Hà Nội

Tình hình đào tạo lao động nông thôn ở Hà Nội

Thành phố Hà Nội là một trong những địa phương có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh, đồng nghĩa với việc tỷ lệ LĐNT bị mất đất canh tác, không có tay nghề, không có việc làm gia tăng nhanh chóng qua từng năm. 

Vào năm 2008, TP đã thành lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, đào tạo nghề và việc làm dành cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp với số vốn ban đầu 50 tỷ đồng từ ngân sách thành phố. Mục đích để giúp người dân có nguồn thu nhập lâu dài, thay vì dùng tiền để mua sắm như khi được chi trả trực tiếp tiền đền bù thu hồi đất. Tuy nhiên, hiệu quả từ quỹ không cao. Cũng như nhiều địa phương khác, phần lớn nông dân đều không mặn mà với việc học nghề, trong đó, một phần là do các nghề dạy còn quá ít, đơn điệu, sơ sài, lại chỉ là hỗ trợ đào tạo ngắn hạn. Vì thế, khi ra nghề, số LĐNT có việc làm không nhiều... 

Để khắc phục tình trạng này, UBND TP đã thành lập Ban chỉ đạo của TP thực hiện Đề án đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn. Ông Nguyễn Đình Đức, Giám đốc Sở LĐTB&XH Hà Nội cho biết, để không còn xảy ra tình trạng đào tạo nghề không trúng, không đúng như vừa qua, Sở LĐTB&XH sẽ tiến hành điều tra, khảo sát nắm tình hình, thu thập số liệu về dân số, LĐNT, chất lượng lao động và đặc biệt chú trọng vào nhu cầu học nghề trên toàn địa bàn. Mặt khác, sẽ đưa ra dự báo về nhu cầu lao động, LĐNT, nhu cầu sử dụng lao động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh... 

Theo đó, từ nay đến năm 2020, Hà Nội sẽ đào tạo nghề cho 6.000 LĐNT, trong đó xác định 70% lao động sau đào tạo nghề có việc làm. Cùng với đó, sẽ xây dựng 2 mô hình điểm của TP về dạy nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp. Đặc biệt, sẽ thành lập mới 3 trung tâm dạy nghề tại các huyện hiện chưa có cơ sở đào tạo nghề gồm: Mỹ Đức, Quốc Oai và Phúc Thọ. Tổng kinh phí thực hiện khoảng hơn 50 tỷ đồng.

UBND TP đã ban hành Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 15-1-2010 và Kế hoạch số 100/KH-UBND ngày 13-7-2010 triển khai thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg, Quyết định số 3658/QĐ-UBND ngày 17-7-2010 về việc tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn TP Hà Nội, trong đó UBND TP quy định trách nhiệm cụ thể của các sở, ngành, UBND các huyện, quận Hà Đông và thị xã Sơn Tây. Tuy nhiên, đến nay một số địa phương, đơn vị chưa triển khai hoặc triển khai quá chậm nhiệm vụ được giao, gây ảnh hưởng đến kết quả thực hiện trên địa bàn TP. Đáng chú ý là còn huyện Đan Phượng chưa hoàn thành công tác điều tra, tổng hợp số liệu. Về xây dựng đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, chưa được các địa phương quan tâm chỉ đạo nên đến giữa tháng 1-2011 mới có 2 huyện Ba Vì, Thạch Thất hoàn thành, còn 16 huyện, quận Hà Đông, thị xã Sơn Tây chưa xây dựng và cũng chưa xác định mô hình điểm để dạy nghề cho lao động nông thôn.

Để có cơ sở xây dựng Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn TP đến năm 2020, thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND TP yêu cầu giám đốc các sở, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, quận Hà Đông và thị xã Sơn Tây hoàn thành nhiệm vụ được giao trước ngày 15-2-2011.

UBND TP Hà Nội vừa phân bổ kinh phí đợt 2 năm 2010 để thực hiện Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của thành phố. Tổng kinh phí được phê duyệt đợt này là 17 tỷ đồng cho 6 đơn vị (trường Trung cấp nghề cơ khí Hà Nội - 5 tỷ đồng, các trung tâm dạy nghề huyện Thanh Trì - 3 tỷ đồng, huyện Mê Linh - 3 tỷ đồng, Ứng Hòa - 3 tỷ đồng, Thạch Thất - 2 tỷ đồng, Sóc Sơn - 1 tỷ đồng). Nguồn kinh phí này sẽ sử dụng vào việc mua sắm thiết bị dạy nghề cho lao động ở nông thôn.

Nghèo – Giảm nghèo – Đào tạo nghề cho người nghèo
Theo kết quả điều tra, tại thời điểm tháng 3/2009, toàn thành phố có 117.825 hộ nghèo với 406.232 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 8,43% tổng số hộ chung toàn thành phố. Năm 2009, toàn thành phố giảm được 30.203 hộ nghèo (chưa kể số phát sinh), đạt 150% kế hoạch, đưa hộ nghèo xuống còn 6,09%.

Năm qua, chương trình trợ giúp người nghèo của thành phố Hà Nội đạt được nhiều kết quả tích cực. Toàn thành phố có hơn 105 nghìn lượt hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh; xây dựng hơn 3.989 nhà ở cho người nghèo. Chương trình hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm cho lao động nghèo đã giúp hơn 3.400 người nghèo được học nghề miễn phí; 468.868 người nghèo, và người dân của các xã trong chương trình 135 được cấp thẻ bảo hiểm xã hội miễn phí…

Tuy nhiên, chương trình giảm nghèo của Thành phố vẫn còn một số tồn tại như: việc điều tra xác định hộ nghèo theo chuẩn mới và rà soát thống kê danh sách hộ có nhà ở hư hỏng, xuống cấp của một số xã phường chưa đảm bảo tiến độ; một số cán bộ cơ sở thiếu trách nhiệm trong công tác trợ giúp người nghèo…

Hiện, Hà Nội vẫn còn gần 92 nghìn hộ nghèo với hơn 300 nghìn nhân khẩu, chiếm 6% tổng số hộ toàn thành phố. Mục tiêu của chương trình giảm nghèo thành phố năm 2010 là đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tái nghèo, xóa 100% nhà hư hỏng, xuống cấp của hộ nghèo.

Ông Nguyễn Đình Đức, Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội cho biết: “Năm nay, cần tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức, ý chí vượt nghèo cho người nghèo, giúp họ vươn lên mức sống khá. Cái này vẫn là một cái chúng tôi đặt lên hàng đầu về tuyên truyền. Nếu không khéo thì rất nhiều cơ chế chính sách như thế này rất nhiều hộ nghèo sẽ ỳ ra, không muốn ra khỏi khung nghèo để tiếp tục hưởng chính sách này. Cho nên đề nghị chúng ta tiếp tục làm công tác tuyên truyền về tư tưởng để làm sao mọi người đều có tự trọng cho mình, cho hộ mình, làm sao càng ít hộ nghèo thì càng tốt.”

Hỗ trợ dạy nghề cho lao động mất đất ở Hà Nội

Theo thống kê của Sở LĐ-TB&XH Hà Nội, hơn 70% người dân sử dụng tiền đền bù thu hồi đất phục vụ cho các dự án đầu tư xây dựng không hiệu quả, thậm chí có tới 50% hộ đã gặp khó khăn trong cuộc sống. 

Trước thực trạng đó, Sở đang trình UBND thành phố về chủ trương hỗ trợ cho các hộ nông dân thuộc diện có đất nông nghiệp bị thu hồi. Cụ thể là thông qua chính sách hỗ trợ các nhà đầu tư, nông dân sẽ được tạo điều kiện hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm có thu nhập ổn định.

Dự kiến mỗi người ở độ tuổi lao động khi bị thu hồi đất nông nghiệp nếu muốn tham gia học nghề để chuyển đổi việc làm sẽ được hưởng một suất đào tạo trị giá 1,5 triệu đồng/người. Ngoài ra, Sở cũng đang đề xuất thêm đối tượng thụ hưởng chính sách ưu đãi học nghề sẽ bao gồm cả con em nông dân từ bậc học phổ thông đến học nghề, cao đẳng và đại học.

Theo lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH, các khoản tiền đền bù từ đất được người dân chi tiêu chủ yếu vào việc xây dựng nhà ở, mua sắm vật dụng trong gia đình, thậm chí một bộ phận không nhỏ người lao động bị mất việc làm nhưng lại sử dụng tiền đền bù vào các tệ nạn xã hội, ma tuý, làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp tại địa phương ...

Ước tính, có tới 7 vạn lao động cần giải quyết do thu hồi đất, trong đó chỉ có 28% có trình độ phổ thông, số còn lại đều có trình độ lao động thấp nên việc tuyển dụng gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, dạy nghề và tạo công ăn việc làm cho những nông dân bị thu hồi không chỉ có ích cho bản thân họ mà còn cho cả xã hội.

Tóm tắt kết quả khảo sát các cơ sở nghề tại hà Nội và Bắc Ninh

Tóm tắt kết quả khảo sát các cơ sở nghề tại hà Nội và Bắc Ninh

Giới thiệu

Con số 73% người lao động thất nghiệp và thiếu việc làm hiện nay là những người không qua đào tạo thực sự là điều đáng lưu tâm đối với các cơ quan có chức năng đào tạo nghề cho người lao động. Chính phủ cần chú trọng hơn nữa đến chính sách đào tạo việc làm thích hợp cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn để họ có thể bắt kịp với sự biến đổi nhanh về nhu cầu lao động của nền kinh tế.

Từ cuối năm 2008 đến nay, Chính phủ đã có những giải pháp tổng thể như "Giải pháp chống suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội", giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng… để thúc đẩy sản xuất phát triển trở lại, tạo thêm việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, các chính sách này triển khai vào thực tế thường chậm trễ do người lao động không có thông tin cộng với lý do người lao động không mặn mà với các chương này với những lý do nêu trên.

Chính vì vậy, Trung tâm giáo dục và phát triển đề xuất xây dựng dự án xây dựng bộ công cụ cho các cơ sở dạy nghề. Dự án sẽ gồm các hoạt độngđể xây dựng bộ công cụ cho các cơ sở dạy nghề giúp họ có thể thiết kế, thực hiện, và theo dõi kết quả của các chương trình dạy nghề một cách có hiệu quả. Mục tiêu của dự án này là: 

i) Chia sẻ các thông tin về các chương trình dạy nghề hiệu quả cho người nghèo; 
ii) Đúc kết kinh nghiệm và bài học cũng như có các công cụ cụ thể để thiết kế chương trình dạy nghề hiệu quả, 
iii) Các công cụ để các cơ sở dậy nghề, trung tâm dậy nghề có thể có các công cụ hữ hiệu để tìm hiểu nhu cầu, thiết kế, thực hiện và theo dõi chương trình của mình một cách hiệu quả. 

Để làm cơ sở xây dựng các công cụ này, Trung tâm đã tiến hành đánh giá nhu cầu từ một số cơ sở dạy nghề về nội dung và những công cụ họ cần nhất. Khảo sát đã được tiến hành tại Hà Nội và Bắc Ninh. Đối tượng khảo sát tập trung: i) các cơ sở dạy nghề; các sở ban ngành có liên quan đến dạy nghề và phát triển kinh tế (kế hoạch và đầu tư) tại địa phương; iii) các doanh nghiệp trên địa bàn. 

Nhóm nghiên cứu, nghiên cứu các tài liệu sẵn có, xem và tổng kết rất nhiều báo cáo và nội dung cua chương trình dậy nghề của chính phủ trước khi thiết kế nội dung phỏng vấn và khảo sát. Sau đó nhóm đánh giá chọn khảo sát 15 đơn vị ở Bắc Ninh và 15 đơn vị ở Hà Nội (xin xem danh sách đơn vị và cá nhân được phỏng vấn khảo sát ở phụ lục).

Kết quả khảo sát

Nhìn chung các đơn vị đào tạo đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, hoàn thành kế hoạch dạy nghề năm 2010. Các lớp dạy nghề ngắn hạn đã đi vào hoạt động có nề nếp, chất lượng dạy và học đã từng bước được nâng lên. Đội ngũ cán bộ giáo viên có trình độ, nhiệt tình công tác.

Theo các cơ sở nghề thì chất lượng đào tạo nghề luôn được chú trọng, quan tâm. Công tác kiểm tra được tăng cường qua các Hội thi học sinh giỏi nghề, Hội giảng giáo viên dạy nghề, Hội thi thiết bị dạy nghề tự làm. Việc tăng cường công tác kiểm tra đã đưa hoạt động dạy và học của các đơn vị đi vào nề nếp và đạt hiệu quả. Tuy nhiên chưa

Kế hoạch dạy nghề cho lao động nông thôn được triển khai và thực hiện tốt, số ngành nghề và số lớp tăng hơn so với năm trước, chất lượng dạy và học đạt hiệu quả.

Khảo sát cũng cho thấy số cơ sở dạy nghề phát triển nhanh nhưng phân bổ không đều, quy mô nhỏ. Chất lượng dạy nghề chưa cao, năng lực của một bộ phận không nhỏ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề còn hạn chế, trang thiết bị thiếu, chậm đổi mới. Hầu hết các trung tâm dạy nghề chưa có giáo viên cơ hữu ở một số nghề mũi nhọn (phục vụ các ngành công nghiệp chủ yếu ở địa phương) và theo nhu cầu của thị trường lao động. Thời gian học của các lớp dạy nghề cho lao động nông thôn thường bị ảnh hưởng về thời vụ, nên việc duy trì số lượng học viên và lớp học chưa tốt.

Công tác nắm bắt thị trường lao động, dự báo nhu cầu lao động chưa được quan tâm đúng mức nên công tác định hướng nghề nghiệp chưa được làm tốt. Vẫn có một số lao động khó tìm được việc làm. Khoảng 85% tổng số học viên đã tìm đượcviệc làm sau khi học xong.

Hoạt động của đa số các cơ sở dạy nghề còn dựa chủ yếu vào chỉ tiêu ngân sách nhà nước, chưa chủ động đổi mới hoạt động để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động. Việc gắn kết giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp để đào tạo theo địa chỉ hay đào tạo nghề theo đơn đặt hàng còn hạn chế.

Công tác đào tạo, chuyển đổi ngành nghề cho lao động nông thôn tuy có được chú trọng nhưng thời gian đào ngắn, người học trình độ thấp, nên cơ hội, khả năng tìm được việc làm chưa cao. Đào tạo nghề cho người nghèo, người khuyết tật chưa được chú ý đúng mức, chưa phù hợp

Qua khảo sát thì hầu hết các cơ sở nêu một số nguyên nhân chủ yếu do: kinh phí dành cho dạy nghề còn hạn chế. Dạy nghề chưa thật gắn với tạo việc làm và chưa theo nhu cầu của thì trường. Quá trình dạy nghề ở các trường dạy nghề còn nặng về lý thuyết, ít thời gian thực hành tại xưởng và thực tập ở các doanh nghiệp. Do vậy, người lao động chưa thích nghi tốt với môi trường sản xuất thực tế.

Mỗi đối tượng học nghề có những khó khăn , thách thức nhất định, nhưng chưa suy nghĩ để tìm ra những chính sách và giải pháp phù hợp với từng đối tượng để nhanh chóng khắc phục và thu hút họ vào học nghề.

• Khảo sát cho thấy hiện nay số cơ sở dạy nghề phát triển nhanh nhưng phân bổ không đều, quy mô nhỏ.
• Chất lượng dạy nghề chưa cao, năng lực của một bộ phận không nhỏ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề còn hạn chế, trang thiết bị thiếu, chậm đổi mới. Hầu hết các trung tâm dạy nghề chưa có giáo viên cơ hữu ở một số nghề đáp ứng nhu cầu thị trường.
• Thời gian học của các lớp dạy nghề cho lao động nông thôn thường bị ảnh hưởng về thời vụ, nên việc duy trì số lượng học viên và lớp học chưa tốt.
• Công tác nắm bắt thị trường lao động, dự báo nhu cầu lao động chưa được quan tâm đúng mức nên công tác định hướng nghề nghiệp chưa được làm tốt. Vẫn có một số lao động khó tìm được việc làm. Theo con số nêu ra của các cơ sở nghề khảo sát khoảng 85% tổng số học viên đã tìm được việc làm sau khi học xong. Tuy nhiên, số liệu thống kê này của các cơ sở đoang đánh giá cũng chưa có cơ hội kiểm chứng.
• Hoạt động của đa số các cơ sở dạy nghề còn dựa chủ yếu vào chỉ tiêu ngân sách nhà nước, chưa chủ động đổi mới hoạt động để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động.
• Việc gắn kết giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp để đào tạo theo địa chỉ hay đào tạo nghề theo đơn đặt hàng còn hạn chế.
• Công tác đào tạo, chuyển đổi ngành nghề cho lao động nông thôn tuy có được chú trọng nhưng thời gian đào ngắn, người học trình độ thấp, cộng với chất lượng dậy nghề chưa đảm bảo (ít thực hành hạn chế cơ hội phát triển kỹ năng) nên cơ hội, khả năng tìm được việc làm chưa cao.
• Đào tạo nghề cho người nghèo, người khuyết tật chưa được chú ý đúng mức, chưa phù hợp
• Đa số cơ sở nghề đều cho rằng kinh phí dành cho dạy nghề còn hạn chế, tuy nhiên theo đoàn đánh giá thì thực chất việc đào tạo nghề còn dàn trải, tập trung vào số lượng chưa quan tâm đến chất lượng.
• Dạy nghề chưa thật gắn với tạo việc làm. Quá trình dạy nghề ở các trường dạy nghề còn nặng về lý thuyết, ít thời gian thực hành tại xưởng và thực tập ở các doanh nghiệp. Do vậy, người lao động chưa thích nghi tốt với môi trường sản xuất thực tế.
• Mỗi đối tượng học nghề có những khó khăn , thách thức nhất định, nhưng chưa suy nghĩ để tìm ra những chính sách và giải pháp phù hợp với từng đối tượng để nhanh chóng khắc phục và thu hút họ vào học nghề.
• Chất lượng đào tạo nghề rõ rang chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, chưa có đánh giá nhu cầu về lao động về nghề từ các doanh nghiệp.

Hiện nay mặc dù đã có rất nhiều hình thức đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như: đào tạo nghề chính quy, đào tạo nghề cho nông dân tại các cơ sở dạy nghề... Tuy nhiên, qua nghiên cứu, khảo sát, với các hình thức dạy nghề trên, người nghèo không tiếp cận được vì nhiều lý do như: người nghèo đã quá tuổi học nghề, không có điều kiện đi học xa nhà, không tham gia được khoá học vì là lao động chính trong gia đình. Do vậy doanh nghiệp đã tiến hành khảo sát nhu cầu học nghề của người nghèo tại các địa phương, phân loại lao động có nhu cầu học nghề theo nhóm ngành nghề để lựa chọn hình thức tổ chức đào tạo cho phù hợp với nhu cầu học nghề của người nghèo.

Được sự đồng thuận ủng hộ của cấp uỷ, chính quyền địa phương cùng sự lỗ lực phấn đấu, vượt qua những khó khăn về khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông đi lại khó khăn trong công tác tư vấn, tuyển sinh học nghề tại các thôn bản trong xã, sáu tháng đầu năm 2010, Công ty đã thu hút được 180 lao động thuộc diện hộ nghèo đăng ký học các nghề: Sửa chữa xe máy, May công nghiệp, Cơ khí, Chăn nuôi thú y tại hai xã Hộ Đáp và Biên Sơn của huyện Lục Ngạn với tổng kinh phí khoảng 300 triệu đồng. Hiện nay các lớp dạy nghề cho người nghèo đang được doanh nghiệp tổ chức đào tạo tại địa phương nhằm giảm thiểu chi phí học nghề cho lao động nghèo, mở lớp đào tạo vào những lúc nông nhàn để người lao động nghèo được tham gia khoá học một cách đầy đủ.

Sau khi kết thúc chương trình đào tạo, người lao động sẽ được công ty tổ chức thi tốt nghiệp và cấp chứng chỉ nghề theo quy định. Đồng thời doanh nghiệp tiến hành tuyển chọn và giới thiệu việc làm cho các lao động học các nghề công nghiệp như: May công nghiệp, Sửa chữa xe máy, Cơ khí, Điện dân dụng vào làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, các cụm, khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh theo hợp đồng cung ứng lao động mà công ty đã ký với các nhà tuyển dụng với mức lương khởi điểm từ 1.500.000 – 1.700.000 đồng/tháng.

Với các ngành nghề về lĩnh vực nông nghiệp như: Chăn nuôi thú y, trồng trọt, trong quá trình học tập, người lao động sẽ được doanh nghiệp trang bị những kiến thức cơ bản về hình thức sản xuất theo hướng hàng hoá, phương thức lựa chọn con giống, vật nuôi trong gia đình, phương thức chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê... và phương pháp điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm. Qua các lớp học này, người lao động có điều kiện được tiếp cận với kiến thức thâm canh, trồng trọt mới, áp dụng một cách có hiệu quả vào mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa phương góp phần tăng thu nhập cho gia đình và bản thân để vươn lên thoát nghèo.

Lựa chọn hình thức hỗ trợ mở các lớp đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật phù hợp tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, Doanh nghiệp tin tưởng rằng trong giai đoạn 2010 – 2015 sẽ giúp người nghèo thoát nghèo trên chính mảnh đất, thửa ruộng của quê hương mình.

Tuy nhiên, việc thu hút người nghèo tham gia các lớp đào tạo còn khó khăn, nhiều người nghèo chưa có việc làm hoặc việc làm chưa ổn định nhưng việc vận động người nghèo đi học nghề là cả một vấn đề . Nguyên nhân cốt lõi vì họ nghèo, phải kiếm sống hàng ngày. Vì vậy khi tham gia các lớp học nghề trong thời gian 03 tháng thì thời gian đó gia đình họ sống bằng nguồn thu nhập nào? Không ít người nghèo cho rằng: đi làm thuê, buôn bán nhỏ mỗi ngày kiếm 50.000 - 70.000 đồng còn hơn đi học nghề. Do vậy Doanh nghiệp nhiều khi không mở được lớp theo kế hoạch do không chiêu sinh đủ 30 học viên/1lớp theo quy định hoặc trong quá trình học, số học viên tự ý nghỉ học không lý do vì người lao động bỏ học để tiếp tục đi làm thuê, cuốc mướn... Điều này đòi hỏi các cấp các ngành và các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động nghèo, cần có sự quan tâm, tạo nhiều cơ hội hơn cho người nghèo, (đặc biệt là người cận nghèo) có nghề để tìm việc làm ổn định lâu dài, góp phần ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế cho gia đình và xã hội. Mặt khác cần có chính sách ưu tiên, khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thu hút lao động nghèo vào làm việc; hoặc khai thác, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có đầu ra ổn định, truyền nghề, cấy nghề cho lao động nghèo để tổ chức tạo việc làm dưới dạng "vệ tinh ” của doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị
Trong giai đoạn 2011-2015, chương trình giảm nghèo được xây dựng với những định hướng chính là: Gắn giảm nghèo với phát triển nông nghiệp, nông thôn; giảm nghèo với an sinh xã hội; giảm nghèo với dạy nghề và việc làm; cần hướng tới và tập trung hỗ trợ đối với các địa bàn khó khăn nhất, mà trọng tâm là Chương trình 62 huyện nghèo.

Để thực hiện tốt công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, người nghèo và đối tượng chính sách, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau: 

Rà soát, phân tích và hoàn thiện đồng bộ, kịp thời hệ thống pháp luật về đào tạo nghề cho LĐNT. Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ban hành các chính sách, hướng dẫn triển khai thực hiện các đề án, chính sách về dạy nghề và việc làm cho lao động nông thôn, cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp; nghiên cứu xây dựng các chính sách về trợ cấp việc làm, bảo đảm an toàn việc làm; chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho các đối tượng yếu thế trong xã hội. 

Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chương trình Mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề giai đoạn 2011 - 2015 với các dự án, hoạt động: đổi mới và phát triển dạy nghề, dạy nghề cho lao động nông thôn; cho vay tạo việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm; đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ phát triển thị trường lao động; nâng cao năng lực cán bộ, giám sát đánh giá, thông tin truyền thông. 

Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án Dạy nghề cho lao động nông thôn theo hướng đồng bộ, bền vững và hiệu quả, gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, gắn dạy nghề và tạo việc làm, có các chính sách thích hợp để thu hút lao động nông thôn vào làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. 

Xây dựng cộng đồng trách nhiệm giữa các bên có liên quan như Nhà nước - doanh nghiệp - cơ sở dạy nghề - người học trong tổ chức triển khai; rà soát quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn, thành lập Trung tâm dạy nghề ở những huyện chưa có trung tâm; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản lý cả về chất lượng và số lượng. 

Xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về thị trường lao động; dự báo cung - cầu lao động trong ngắn hạn và dài hạn theo quý, 6 tháng, hằng năm phục vụ cho việc hoạch định chính sách về dạy nghề và việc làm nói chung, thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường nói riêng; nâng cao năng lực các trung tâm giới thiệu việc làm, đa dạng hoá các hoạt động giao dịch việc làm để các đối tượng lao động ở vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa có cơ hội tiếp cận thông tin thị trường lao động, từ đó tìm được việc làm phù hợp với bản thân. 

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về dạy nghề và tạo việc làm. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động thông tin tuyên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành và người dân về các chủ trương, chính sách, thông tin việc làm, thị trường lao động và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Nghiên cứu ,ban hành các chính sách hổ trợ cần thiết sau khi người LĐNT đã được đào tạo để tạo điều kiện cho họ kiếm sống và lập nghiệp bền vững hơn.

Thu hút cao hơn, tốt hơn sự tham gia của các đoàn thể và các tổ chức xã hội nghề nghiệp.

Tình hình dạy nghề tại tỉnh Bắc Ninh

Tình hình dạy nghề tại tỉnh Bắc Ninh:
Từ đầu năm tới nay, tỉnh Bắc Ninh đã giải quyết việc làm cho 13.200 lao động, đạt 50,7% kế hoạch năm, trong đó, ngành công nghiệp xây dựng là 8.452 lao động; ngành nông nghiệp là 960 người; dịch vụ là 2.388 và xuất khẩu lao động là 1.400 người. Giải ngân quỹ cho vay giải quyết việc làm là 6,2 tỷ đồng với 92 dự án. Tỉnh đã tổ chức tốt 25 phiên sàn giao dịch việc làm, thu hút 117 doanh nghiệp và 2.500 lao động tham gia, trong đó có 32 doanh nghiệp mới; tiếp nhận 2.874 hồ sơ đăng ký tìm việc tại các Trung tâm Giới thiệu việc làm, giới thiệu việc làm cho 2.310 lao động; tổ chức dạy tin học, ngoại ngữ cho 640 học viên; nhận hồ sơ đăng ký thất nghiệp cho 1.008 người và làm thủ tục giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp cho 586 người.
Ngoài ra, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội đã trình và được UBND tỉnh phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 và kế hoạch năm 2011. Đến nay, tỉnh đã tuyển mới và đào tạo nghề cho 10.850 học viên, trong đó, sơ cấp nghề là 10.050 học viên; dạy nghề ngắn hạn khác là 800 học viên.
Bên cạnh đó, Sở đã xây dựng kế hoạch Đào tạo nghề cho bộ đội hoàn thành nghĩa vụ quân sự giai đoạn 2011-2015; phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ xây dựng kế hoạch Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2011-2015; cấp phép hoạt động dạy nghề cho 6 cơ sở; thẩm định hồ sơ đề nghị xếp hạng cho 2 đơn vị dạy nghề công lập; tổ chức kiểm tra liên ngành đối với 30 doanh nghiệp về tình hình thực hiện pháp luật lao động trong thời gian hưởng ứng Tuần lễ An toàn vệ sinh lao động- Phòng chống cháy nổ; kiểm tra thực hiện chế độ, chính sách đối với lao động nữ tại 12 doanh nghiệp; huấn luyện vệ sinh an toàn lao động cho 9 doanh nghiệp và duyệt đăng ký thang lương, bảng lương, thỏa ước lao động, nội quy lao động theo quy định.

Thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề (CSDN)
Từ năm 2003, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành văn bản phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2003-2010”. (Quyết định số 84/2003/QĐ-UB ngày 17/9/2003 của UBND tỉnh Bắc Ninh)

Đến năm 2010, tổng số cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh là 49 cơ sở; đã có 11 cơ sở dạy nghề được cấp phép.

Thực hiện các chỉ tiêu về đào tạo nghề năm 2010
• Tổng số người được đào tạo nghề: 37.474 người . Trong đó:
o Cao đẳng nghề: 1.173 người
o Trung cấp nghề : 2.621 người
o Sơ cấp nghề 31.680 người
o Dạy nghề cho LĐNT 11.730 người
o Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 42% (2009) lên 45% (2010); tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề: 32%

Thực hiện các hoạt động chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy nghề.
Năm 2010, tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức được các hoạt động sau:
• Hội thi thiết bị dạy nghề tự làm cấp tỉnh,
• Tham gia Hội thi thiết bị dạy nghề tự làm toàn quốc,
• Tổ chức Hội thi học sinh giỏi nghề cấp tỉnh;
• Tham gia Hội thi tay nghề Quốc gia 2010,
• Tổ chức Hội nghị tổng kết Hội thi thiết bị dạy nghề tự làm,
• Hội thi học sinh giỏi nghề cấp tỉnh, toàn quốc năm 2010
• Hướng dẫn UBND cấp huyện, thị xã, thành phố xây dựng đề án dạy nghề cho lao động nông thôn ở cấp huyện.
• Trình UBND tỉnh ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ;
• Trình UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt Điều lệ trường Trung cấp nghề .
• Chỉ đạo các CSDN xây dựng kế hoạch mua sắm trang thiết bị dạy nghề.
• Phối hợp với Sở thanh tra để thanh tra các đơn vị dạy nghề trên địa bàn.
• Phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020.
• Xây dựng kế hoạch và phối hợp với Cục Thống kê tổ chức điều tra, khảo sát, dự báo nhu cầu và xây dựng mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn.

Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2010 trình UBDN tỉnh phê duyệt; Thực hiện ký kết hợp đồng đào tạo nghề cho lao động nông thôn đợt 1 năm 2010 với các cơ sở đào tạo nghề. Tổng số lớp đào tạo nghề cho LĐNT đã khai mạc là 56 lớp. Năm 2010 các lớp DNNT có 151 lớp. Ngoài ra, tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn UBND các huyện, thị xã, thành phố bố trí kinh phí dạy nghề cho lao động nông thôn trên cơ sở kế hoạch và dự toán của các trung tâm dạy nghề. Kinh phí cần đảm bảo tối thiểu từ 600 triệu đồng đến 800 triệu đồng/1 trung tâm để các trung tâm có nguồn lực thực hiện.

Theo báo cáo của tỉnh, tổng số lao động nông thôn được học và cấp chứng chỉ sơ cấp nghề năm 2010: 10.110 người. Hầu hết lao động đã được đào tạo đều có việc làm tại các khu công nghiệp trong tỉnh và ngoài tỉnh; sản xuất , gia công, dịch vụ tại gia đình, có hiệu quả kinh tế rõ rệt và góp phần ổn định an ninh tại địa phương.

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Tình hình dạy nghề cho người nghèo ở Việt Nam

Tổng quan chung về dạy nghề cho người nghèo
Nghèo đói do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng, kết quả từ nhiều cuộc điều tra, khảo sát đã cho thấy là trên 60% số người nằm trong diện đói nghèo là do họ thiếu kiến thức, tay nghề để có thể tham gia thị trường lao động, tạo việc làm, tạo thu nhập cho chính mình.

Từ 2001-2010, Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình, dự án trong phạm vi cả nước về việc làm, xóa đói giảm nghèo (XĐGN), như: Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục - đào tạo; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135)...
Trong những CTMTQG nói trên đã đề ra những nội dung, chính sách và giải pháp về đào tạo nghề, dạy nghề, học nghề cho người nghèo, phát triển các cơ sở dạy nghề cho người nghèo, tạo việc làm và tạo thu nhập cho người nghèo sau khi thành nghề. Có thể nói, vấn đề đào tạo nghề, dạy nghề, tạo việc làm và tạo thu nhập cho người nghèo là tiêu điểm của các Chương trình, dự án có mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong thời gian qua.
Ngày 27/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30A/2008/NQ-CP “Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo” (nay là 63 huyện) , trong đó có chính sách và dự án hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập; phê duyệt và triển khai Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững. Các chính sách, chương trình, dự án trên tập trung chủ yếu vào đối tượng lao động nông thôn, lao động diện thu hồi đất cho phát triển các khu công nghiệp và đô thị, lao động thuộc hộ nghèo, đối tượng chính sách và đã đạt được những kết quả nhất định.

Quỹ Quốc gia về việc làm ( thành lập từ năm 1992) đóng vai trò ngày càng quan trọng trong hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho người lao động. Đến nay Quỹ Quốc gia về việc làm đã tích luỹ được trên 3.761 tỉ đồng và được phân bổ cho 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Ngoài ra, có 37 tỉnh, thành phố đã thành lập Quỹ việc làm địa phương với số vốn trên 880 tỉ đồng, kết hợp với nguồn vốn bổ sung hằng năm và vốn thu hồi đã đưa doanh số cho vay giai đoạn 2006 - 2010 lên khoảng 8.096 tỉ đồng, cho vay hơn 600 nghìn dự án, thời gian cho vay bình quân một dự án là 35 tháng, góp phần hỗ trợ tạo việc làm cho 250 - 300 nghìn lao động mỗi năm, trong đó, 90% các dự án vay vốn tập trung cho vay ở khu vực phi chính thức, chủ yếu ở khu vực nông thôn. Quỹ Quốc gia về việc làm đã hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho lao động nông thôn bằng nhiều mô hình hiệu quả như: hợp tác xã sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; các vùng nuôi trồng thuỷ hải sản; mô hình kinh tế trang trại, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống; lồng ghép với chương trình tổ, nhóm giúp nhau làm kinh tế của Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân...

Đối với lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, ngoài việc được ưu tiên vay vốn tạo việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm, các địa phương đã thực hiện nhiều chính sách như: hỗ trợ kinh phí học nghề để chuyển đổi việc làm hoặc đi lao động ở nước ngoài; xây dựng các chợ, mở rộng trung tâm thương mại thu hút các hộ đến kinh doanh; quy định hỗ trợ các doanh nghiệp nhận lao động vào làm việc, v.v..

Chính sách dạy nghề cho người nghèo (chính phủ và các tổ chức)
Trong những năm gần đây, những VBQPPL liên quan trực tiếp đến chính sách đào tạo nghề, dạy nghề cho người nghèo và lao động nông thôn đã tiếp tục phát triển, hoàn thiện gắn liền với các chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, Từ năm 2010, đã ban hành nhiều VBQPPL để trực tiếp thực thi quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Chi tiết các văn bản hiện hành có thể xem thêm ở phần phụ lục.

Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo:
Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, nhất là hộ có người khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ.

Thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là lao động nghèo; ưu tiên nguồn lực đầu tư cơ sở trường, lớp học, thiết bị, đào tạo giáo viên dạy nghề; gắn dạy nghề với tạo việc làm đối với lao động nghèo. Mở rộng diện áp dụng chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với lao động nghèo trên cả nước.

Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo:
Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học, nhất là bậc mầm non; tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên, nhất là sinh viên nghèo;

Thông tư liên tịch số 44/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH về sửa đổi, bổ sung cơ chế quản lý tài chính đối với một số dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo vừa được Liên bộ Tài chính - Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành. đã qui định:

Trong thời gian học nghề, người nghèo được hỗ trợ tiền ăn 15.000 đồng/ngày thực học/người. Người nghèo học nghề xa nơi cư trú từ 15km trở lên được hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé phương tiện giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học.

Đối với hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, mô hình công nghệ cao, chuyển giao khoa học công nghệ trên các vùng sinh thái theo dự án, hộ nghèo ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa được hỗ trợ tối đa 100% và không quá 5 triệu đồng/hộ; hộ nghèo ở vùng khác được hỗ trợ tối đa 50% chi phí và không quá 3 triệu đồng cho chi phí về giống và vật tư, cũng như hỗ trợ mua sắm trang thiết bị, máy móc, công cụ chế biến, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch.

Doanh nghiệp có đề án tự tổ chức dạy nghề theo hình thức truyền nghề, vừa học vừa làm và nhận người nghèo vào làm việc ổn định (tối thiểu 24 tháng) cũng được hỗ trợ tối đa 1,5 triệu đồng/người nghèo (áp dụng đối với doanh nghiệp không đủ điều kiện công nhận là cơ sở dạy nghề).

+ Thực hiện chủ trương của Đảng về hỗ trợ học nghề và tạo việc làm, trong những năm qua, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực dạy nghề và việc làm ngày càng hoàn thiện; nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, lao động nông thôn, lao động thuộc diện chính sách xã hội, lao động là dân tộc thiểu số học nghề và tạo việc làm được thực hiện như: dạy nghề miễn phí cho người nghèo; hỗ trợ học phí học nghề, ngoại ngữ, kiến thức trước khi đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp nhận lao động thuộc vùng thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc; hỗ trợ kinh phí học nghề cho đối tượng là người nghèo, đối tượng chính sách,...

Các đơn vị cung cấp dịch vụ dậy nghề cho người nghèo: các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn khác)

Theo báo cáo từ Tổng cục dạy nghề, trong khoảng 5 năm trở lại đây, mạng lưới cơ sở dạy nghề của nước ta đã được phát triển nhanh, rộng khắp. Tính đến cuối năm 2010 cả nước có:
• 123 trường cao đẳng nghề, 303 trường trung cấp nghề (tăng gấp 3,29 lần so với năm 1998);
• Số trung tâm dạy nghề là 810 (tăng 5,18 lần) và hơn 1.000 cơ sở khác có tham gia dạy nghề, trong đó có gần 200 cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp ( gấp 3 lần).
• Quy mô dạy nghề tăng nhanh (4 lần); trong đó, dạy nghề trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề (dạy nghề dài hạn) tăng 4,77 lần (từ 75.600 lên 360.000); nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2010 là 30%.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia trong ngành, thực tế, hiện việc đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề đào tạo nghề đạt đẳng cấp quốc tế, công nhân có tay nghề cao có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất của các doanh nghiệp.

Theo dự thảo “Kết quả lựa chọn nghề trọng điểm và trường có nghề trọng điểm để đầu tư giai đoạn 2011 – 2020” do Tổng cục Dạy nghề thực hiện, sẽ có 164 nghề trọng điểm được chọn, đến năm 2020 sẽ có 40 trường dạy nghề chất lượng cao, 12 trường đạt đẳng cấp quốc tế (năm 2015 là 5 trường), 28 trường đạt đẳng cấp khu vực ASEAN (năm 2015 là 14 trường). Các trường còn lại sẽ có ít nhất có 1 nghề trọng điểm cấp quốc gia. Cũng theo kế hoạch, tất cả các trường cao đẳng, trung cấp nghề công lập thuộc các bộ, cơ quan Trung ương, địa phươngịnh 1996 đều được ngân sách Nhà nước hỗ trợ đầu tư theo nghề, cấp độ ở mức độ khác nhau.

Năm 2010 , cả nước thực hiện quyết định 1956 về đào tạo nghề cho LĐNT và đã đạt được những thành quả lớn, như:
• Quy mô chất lượng dạy nghề được nâng cao. Tuyển mới dạy nghề cho hơn 1,7 triệu người (tăng 6,6% so với năm 2009). Trong năm đã thành lập 13 trường cao đẳng nghề, 17 trương trung cấp nghề, 62 trung tâm dạy nghề. Chất lượng dạy nghề cũng được chuyển biến rõ, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm ngay là 80,39%, trong đó 32,5% có mức lương từ 3,6 đến hơn 4,5 triệu đồng/tháng.
• Triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn bước đầu đạt được kết quả đáng khích lệ. Cả nước đã tổ chức trên 9.000 lớp dạy nghề cho khoảng 277.000 lao động nông thôn, các lớp học nghề đều gắn với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để giải quyết việc làm, nâng cao năng suất lao động và tăng thu nhập của lao động nông thôn. Nhiều mô hình dạy nghề ở xã, thôn rất phong phú, đa dạng, tạo bước đột phá nhận thức về học nghề, lập nghiệp trong các tầng lớp nhân dân, thanh niên cả nước.
• Đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị- xã hội và người lao động. Các Bộ, ngành, địa phương đã ban hành được một số văn bản hướng dẫn, tạo điều kiện pháp lý cần thiết để triển khai các hoạt động của Đề án.
• Sau 1 năm thực hiện Đề án 1956, cả nước đã đào tạo nghề cho 345.140 lao động nông thôn, trong đó khoảng 48,6% học các nghề nông nghiệp; khoảng 51,4% học các nghề phi nông nghiệp, tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt khoảng 70%.
• Đã thành lập 13 trường cao đẳng nghề, 17 trương trung cấp nghề, 62 trung tâm dạy nghề.
• Chất lượng dạy nghề cũng được chuyển biến rõ, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp có việc làm ngay là 80,39%, trong đó 32,5% có mức lương từ 3,6 đến hơn 4,5 triệu đồng/tháng.
• Quy trình tổ chức đào tạo nghề cho LĐNT có hiệu quả theo mục tiêu của Đề án đã được xác định, trong đó làm rõ trách nhiệm và mối quan hệ giữa các cơ quan có liên quan từ việc điều tra, khảo sát nhu cầu, xác định nghề cần đào tạo, đến việc tổ chức dạy nghề gắn với giải quyết việc làm, sử dụng lao động hoặc “bao tiêu” sản phẩm và việc làm của người sau đào tạo nghề.
• Tất cả các tỉnh/thành phố đã hoàn thành công tác điều tra, trong đó 35 tỉnh đã tổng hợp nhu cầu học nghề, danh mục nghề đào tạo.
• Các điều kiện để nâng cao năng lực đào tạo nghề cho LĐNT như: đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề; phát triển chương trình, giáo trình; phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề tiếp tục được tăng cường.
• Việc thí điểm dạy nghề gắn với giải quyết việc làm và nâng cao mức sống ở 11 xã điểm xây dựng mô hình nông thôn mới, ở 11 tỉnh điểm thực hiện Đề án, ở các huyện điểm, xã điểm của 63 địa phương; các mô hình dạy nghề cho vùng chuyên canh, dạy nghề cho lao động trong các làng nghề, dạy nghề gắn với doanh nghiệp đã thu được những kết quả bước đầu tích cực.
• Cả 63 tỉnh trên cả nước đã thành lập Ban chỉ đạo Đề án 1956, 73% cấp huyện và 49% cấp xã đã thành lập ban chỉ đạo. Đây là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ cấp tỉnh đến cơ sở.

Hiệu quả của công tác dậy nghề cho người nghèo trong thời gian qua và phương hướng trong thời gian tới

Khảo sát đánh giá xây dựng danh mục các cơ sở dạy nghề có chất lượng, phù hợp nhu cầu của người lao động. Hiện nay có rất nhiều chương trình của chính phủ và các tổ chức đang tiến hành, cần phải rút ra một số kinh nghiệm bước đầu để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả và bền vững, phải hỗ trợ tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo, thông qua đào tạo nghề miễn phí gắn với tạo việc làm cho họ với các hình thức phù hợp. Để thực hiện có hiệu quả dự án dạy nghề cho người nghèo, phải tìm được đầu ra cho lao động nghèo sau khi được đào tạo. Muốn vậy, phải trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, có chính sách ưu tiên, khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thu hút lao động nghèo vào làm việc; hoặc khai thác, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có đầu ra ổn định, truyền nghề, tạo nghề cho lao động nghèo để tổ chức tạo việc làm dưới dạng “vệ tinh” của doanh nghiệp. Nhóm dự án sẽ tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá và lập danh mục các cơ sở dạy nghề thực hành, uy tín, có chất lượng, giúp chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng mô hình.






Hiện nay các cơ sở dạy nghề đa số dạy nghề theo chỉ tiêu chưa theo nhu cầu của thị trường và người học, vì vậy, nhóm sẽ xây dựng bộ công cụ giúp các cơ sở có thể tìm hiểu nhu cầu học nghề của lao động nghèo để có những hình thức đào tạo nghề phù hợp, tìm kiếm các cơ sở đào tạo nghề, các doanh nghiệp bảo đảm điều kiện tạo việc làm cho lao động nghèo hoặc nhận lao động nghèo vào làm việc sau khi được đào tạo. Đặc biệt hiện nay có nhiều chính sách và chương trình hỗ trợ lao động khuyết tật.

1 Tổng hợp từ các nguồn báo cáo sẵn có
2 Dựa vào đánh giá và phỏng vấn với các tổ chức có liên quan đến đào tạo nghề

Giới thiệu về dự án dạy nghề hiệu quả

Giới thiệu 

Suy thoái kinh tế thế giới đã gây ra khủng hoảng việc làm sâu rộng trên toàn cầu. Nạn thất nghiệp tiếp tục tăng đến đầu năm 2011 và cuộc khủng hoảng việc làm có thể tiếp tục kéo dài. Khủng hoảng việc làm chứa đựng những nguy cơ lớn đối với sự ổn định chính trị, xã hội. Ở nhiều quốc gia, nạn thất nghiệp đã trở thành vấn đề bức xúc biến thành sự tức giận và nổi loạn, khiến cho nhiều người bức bối, chống lại chính phủ và quy tội lỗi cho các quan chức.

Nền kinh tế toàn cầu bị suy giảm cũng tác động mạnh tới Việt Nam và có ảnh hưởng rõ rệt đến thị trường lao động. Từ những người lái taxi, những người bán dạo cho đến công nhân viên chức hay những nhà đầu cơ, tất cả đều đồng ý rằng cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã ảnh hưởng tới Việt Nam và những người nghèo đang phải hứng chịu hậu quả. Số liệu thống kê mới nhất của chính phủ Việt Nam cho thấy hiện có khoảng 12 triệu người nghèo trong tổng số 86 triệu dân, và còn rất nhiều người đang sống rất gần ngưỡng nghèo. Nghiên cứu lực lượng lao động trong thời gian này đã cho thấy một số xu hướng việc làm quan trọng trong giai đoạn này. Việt Nam có tỷ số việc làm trên dân số tương đối cao, với gần 75% dân số từ 15 tuổi trở lên. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bất ổn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam đã giảm trong giai đoạn từ 2007 đến 2009. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng đối với nam giới và nữ giới trong độ tuổi 15 – 19 (từ 37,1% năm 2007 lên 43,8% năm 2009) cho thấy rằng đã có một lượng lớn thanh thiếu niên rời bỏ nhà trường để tìm việc kiếm sống và hỗ trợ gia đình.

Theo số liệu thống kê của chính phủ, ngành chiếm nhiều lao động nhất ở Việt Nam là các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, với gần 23 triệu lao động trong năm 2008. Số liệu trên cho thấy sự chuyển đổi cơ cấu của thị trường lao động Việt Nam từ những việc làm trong ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp, đòi hỏi nhiều lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn, được đầu tư công nghệ và tài chính nhiều hơn. Trong hầu hết các dự báo, việc làm trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có chiều hướng giảm và sẽ ở mức 21,1 triệu lao động vào năm 2020. Chính vì vậy, đào tạo nghề nhằm chuyển dịch cơ cấu nghề cho lao động nông thôn là nhu cầu khá bức thiết. Việc tăng cường trình độ và kỹ năng cho người lao động sẽ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình chuyển đổi này.

Hiện nay, Việt Nam đã có rất nhiều hình thức đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, như đào tạo nghề chính quy, dạy nghề cho nông dân, Hiện nay, đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đang được triển khai. Tuy nhiên, theo các báo cáo của tổng cục dậy nghề, với các hình thức dạy nghề trên, người nghèo không tiếp cận được vì nhiều lý do như quá tuổi đào tạo, không có điều kiện đi học xa nhà, không tham gia được vì là lao động chính trong gia đình.

Daỵ nghề cho nông dân hay người nghèo cần phải áp dụng những hình thức khác nhau ở từng địa phương. Hiện nay có một số địa phương, một số tổ chức xã hội và tư nhân dạy nghề cho người nghèo một cách có hiệu quả và chất lượng, đảm bảo tay nghề và đầu ra. Ví dụ như các hình thức dạy tại các cơ sở dạy nghề; dạy nghề theo đơn đặt hàng của các tập đoàn, Tổng công ty; dạy nghề lưu động (tại xã, thôn, bản); dạy nghề tại doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dạy nghề thực hành… Những kinh nghiệm này cần được thống kê, đánh giá một cách đầy đủ và phổ biến rộng rãi để nhân rộng nhằm nâng cao chất lượng của các chương trình dậy nghề. Cần có những công cụ thiết thực để đánh giá nhu cầu của người học nghề, đánh giá chất lượng và trình độ của người lao động sau khi kết thúc các khóa học và hỗ trợ kết nối với thị trường lao động. 

Trong “Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Chính phủ chỉ đạo tập trung đào tạo nghề cho các nhóm đối tượng là nông dân được đào tạo để trở thành những nông dân làm nông nghiệp hiện đại; nông dân được đào tạo để chuyển nghề thành lao động phi nông nghiệp tại nông thôn hoặc trở thành công nhân công nghiệp; nông dân được đào tạo để phục vụ xuất khẩu lao động; nông dân được đào tạo để trở thành các nhà quản lý sản xuất ở nông thôn hoặc trở thành các cán bộ thôn, xã. Tuy nhiên, theo lãnh đạo Tổng Cục dạy nghề (Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội), nhiều địa phương khi mở lớp đào tạo nghề chỉ 1-2 nông dân đăng ký theo học vì những nghề do các chương trình hiện nay không phù hợp với họ hoặc không có khả năng tiếp cận với cơ hội việc làm. Hơn nữa các chương trình dạy nghề chưa đi sát với nhu cầu của các ngành kinh tế và khả năng của người nông dân từng địa phương. Người nông dân khó có thể kiếm được việc làm sau khi học nghề từ các chương trình dạy nghề cho người nghèo. Chính vì vậy các chương trình dạy nghề hiện nay chưa mang lại hiệu quả, gây ra sự lãng phí lớn về nguồn lực.

Đây là một mâu thuẫn lớn vì kết quả của nhiều cuộc điều tra, khảo sát cho thấy, một nguyên nhân lớn dẫn đến nghèo đói (trên 60%) là do người nghèo thiếu kiến thức, tay nghề để có thể tham gia thị trường lao động, tạo việc làm, thu nhập cho chính mình. Trong khi đó nhiều chương trình dạy nghề của các tổ chức và các chính phủ lại không thu hút được người lao động hay người nông dân tham gia. 

Con số 73% người lao động thất nghiệp và thiếu việc làm hiện nay là những người không qua đào tạo thực sự là điều đáng lưu tâm đối với các cơ quan có chức năng đào tạo nghề cho người lao động. Chính phủ cần chú trọng hơn nữa đến chính sách đào tạo việc làm thích hợp cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn để họ có thể bắt kịp với sự biến đổi nhanh về nhu cầu lao động của nền kinh tế.

Từ cuối năm 2008 đến nay, Chính phủ đã có những giải pháp tổng thể như "Giải pháp chống suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã hội", giải pháp kích cầu đầu tư, tiêu dùng… để thúc đẩy sản xuất phát triển trở lại, tạo thêm việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, các chính sách này triển khai vào thực tế thường chậm trễ do người lao động không có thông tin cộng với lý do người lao động không mặn mà với các chương này với những lý do nêu trên.

Chính vì vậy, Trung tâm giáo dục và phát triển đề xuất xây dựng dự án xây dựng bộ công cụ cho các cơ sở dạy nghề. Dự án sẽ gồm các hoạt độngđể xây dựng bộ công cụ cho các cơ sở dạy nghề giúp họ có thể thiết kế, thực hiện, và theo dõi kết quả của các chương trình dạy nghề một cách có hiệu quả. Mục tiêu của dự án này là: 
  • i) Chia sẻ các thông tin về các chương trình dạy nghề hiệu quả cho người nghèo
  • ii) Đúc kết kinh nghiệm và bài học cũng như có các công cụ cụ thể để thiết kế chương trình dạy nghề hiệu quả
  • iii) Các công cụ để các cơ sở dậy nghề, trung tâm dậy nghề có thể có các công cụ hữ hiệu để tìm hiểu nhu cầu, thiết kế, thực hiện và theo dõi chương trình của mình một cách hiệu quả
 1. Nghiên cứu về lao động của tổ chức lao động quốc tế tại Việt Nam.

Tìm kiếm